Thứ Bảy, 22/2/2020
Hotline: 08045542 - 08045075
Ưu tiên, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về thác tài nguyên vùng biển, đại dương
 Bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng (Ảnh: CTV)

Việt Nam có bờ biển dài và vùng biển rộng lớn chứa đựng nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú, đây là nguồn lợi quan trọng để chúng ta tiến mạnh ra biển,tiếp cận với những lợi ích to lớn do biển mang lại. Vì vậy, có thể nói, nghiên cứu khoa học biển, hải đảo là chìa khóa để Việt Nam có cơ sở khoa học để hoạch định cơ chế, chính sách pháp luật quản lý , sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên biển.

Bờ biển nước ta trải dài từ Bắc xuống Nam dài 3.260 km, với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa... các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước ta rộng hơn 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền).

Trên vùng biển Việt Nam đã có hơn 11.000 loài sinh vật với hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, với khoảng 1.300 loài trên các hải đảo. Đặc biệt, vùng biển Việt Nam có khoảng 35 loại hình khoáng sản với trữ lượng khai thác khác nhau. Trong đó dầu khí là tài nguyên lớn nhất, có vị trí quan trọng trong ngành kinh tế đất nước, cụ thể, ngành ngành dầu khí Việt Nam đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước…

Có thể khẳng định vị trí và vai trò to lớn của tiềm năng biển nước ta, tuy nhiên trong vòng những năm trở lại đây, ngoài việc phát hiện thêm mỏ dầu khí và một vài loại khoáng sản ven biển có thể khai thác công nghiệp, Việt Nam chưa có một phát hiện nào mới về tiềm năng khoáng sản khác. Trong đó, hững những kết quả điều tra, nghiên cứu khoa học về môi trường và các nguồn lợi về thủy hải sản, khí tượng thủy văn cũng chưa có bước tiến dài.

Xác định rõ tầm quan trọng của vấn đề hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển, đảo, ngay từ rất sớm khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 242/HĐBT “Quy định về việc các bên nước ngoài và phương tiền nước ngoài vào nghiên cứu khoa hoc ở các vùng biển của nước CHXHCN Việt Nam”. Nghị định này đã góp phần không nhỏ cho việc phát triển hợp tác trong nghiên cứu khoa học biển của Việt Nam với các quốc gia khác.

Đến nay, sau hơn 20 năm xây dựng và phát triển, song hành với việc Việt Nam tham gia Công ước Luật biển, ban hành Luật Biển Việt Nam và gần đây nhất là Luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo thì Nghị định đã không còn phù hợp với quy định quốc tế và trong nước.

Trên cơ sở của luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo quy định về vấn đề cấp phép cho các tổ chức cá nhân nước ngoài tiến hành trong vùng biển Việt Nam, ngày 15/5/2016 chính phủ đã ban hành nghị định mới thay thế, quy định chi tiết việc cấp phép cho các tổ chức cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển của Việt Nam.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị, văn bản và triển khai nhiều biện pháp, nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, như: Quyết định 47/2006/QĐ-TTg, ngày 01-3-2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên, môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020”; Quyết định 798/QĐ-TTg, ngày 11-5-2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (năm 2015)…

  Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh (Ảnh: PV)

Với tầm quan trọng của biển, việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu khoa học vùng biển của Việt Nam trong bối cảnh nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu khoa học hạn hẹp như hiện nay là hướng đi phù hợp giúp Việt Nam tận dụng nguồn lực quốc tế, phát triển kinh tế biển, đảo.

Như vậy, với những điều khoản chặt chẽ về nguyên tắc thực thi song cũng rất cởi mở với đối tượng và phạm vi thực hiện nghiên cứu khoa học có thể hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, trong thời gian không xa, Việt Nam sẽ có những tài liệu khoa học sâu sắc hơn, phủ rộng hơn về tiềm năng tài nguyên môi trường biển; góp phần thực hiện thắng lợi Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 mà Chính phủ đề ra.

Giai đoạn từ  năm 2030 - 2045, tiếp tục tăng cường điều tra nghiên cứu ở vùng biển sâu, vùng biển quốc tế liền kề, các khu vực còn thiếu dữ liệu, mẫu vật nhằm giải quyết các vấn đề địa chất mang tính chất toàn khu vực Biển Đông. Đặc biệt, ưu tiên tính phát hiện và định hướng cho nghiên cứu các loại hình khoáng sản biển sâu. Phối hợp với các tổ chức quốc tế để triển khai chương trình nghiên cứu vùng biển sâu: khoáng sản ở Biển Đông Việt Nam và tham gia nghiên cứu các vùng biển quốc tế khác.

Trên cơ sở của luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo quy định về vấn đề cấp phép cho các tổ chức cá nhân nước ngoài tiến hành trong vùng biển Việt Nam, ngày 15/5/2016 chính phủ đã ban hành nghị định mới thay thế, quy định chi tiết việc cấp phép cho các tổ chức cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển của Việt Nam.

Trong đó, Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 đã pháp lý hóa việc nghiên cứu khoa học tài nguyên môi trường biển, đây là cơ sở quan trọng để hoạch định định hướng nghiên cứu khoa học địa chất biển trong tương lai. Cụ thể như sau:

Điều 17. Hoạt động nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

1. Hoạt động nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được thực hiện thông qua các nhiệm vụ khoa học và công nghệ về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo theo quy định của Luật này và pháp luật về khoa học và công nghệ.

2. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo thông qua chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

3. Hoạt động nghiên cứu khoa học của tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành trong vùng biển Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện và phải được cấp phép theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Điều 18. Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

1. Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo bao gồm đề tài, dự án, nhiệm vụ nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí sau đây:

a) Có tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; phát huy tiềm lực khoa học và công nghệ về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; bảo đảm quốc phòng, an ninh;

b) Giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, liên vùng, quốc tế;

c) Làm cơ sở lý luận để hoạch định chính sách, cơ chế nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; định hướng cho hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng;

d) Phải huy động nguồn lực quốc gia và có sự tham gia của nhiều ngành khoa học và công nghệ.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo gửi về bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cơ quan nhà nước khác ở trung ương phải phù hợp với ngành, lĩnh vực, địa bàn quản lý để tổng hợp, đề xuất các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đưa vào chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

3. Trên cơ sở đề xuất của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cơ quan nhà nước khác ở trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp, xây dựng, đặt hàng thực hiện đề tài, dự án, nhiệm vụ thuộc chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Việc xác định và tổ chức thực hiện chương trình được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 19. Cấp phép nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam cho tổ chức, cá nhân nước ngoài

1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định pháp luật của nước nơi tổ chức được thành lập; tổ chức quốc tế là tổ chức liên chính phủ; cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định pháp luật của nước nơi cá nhân mang quốc tịch;

b) Có nhu cầu nghiên cứu khoa học độc lập hoặc hợp tác nghiên cứu khoa học với phía Việt Nam; đối với trường hợp nghiên cứu khoa học trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam thì phải có sự hợp tác với phía Việt Nam khi Việt Nam có yêu cầu;

c) Hoạt động nghiên cứu khoa học vì mục đích hòa bình; không gây phương hại đến chủ quyền quốc gia, hoạt động quốc phòng, an ninh của Việt Nam; không gây ô nhiễm môi trường biển; không cản trở các hoạt động hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong vùng biển Việt Nam;

d) Có đủ hồ sơ đề nghị cấp phép theo quy định.

2. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép nghiên cứu khoa học cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành trong vùng biển Việt Nam sau khi lấy ý kiến các bộ quản lý ngành, lĩnh vực, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có liên quan và thống nhất ý kiến với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ. Sau khi cấp phép, Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thông báo cho bộ, ngành và địa phương có liên quan để phối hợp quản lý.

3. Cơ quan có thẩm quyền cấp phép nghiên cứu khoa học có quyền cấp lại, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, đình chỉ, thu hồi văn bản cấp phép.

4. Chính phủ quy định chi tiết việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam.

Thông qua 5 Điều (từ Điều 17 - Điều 21), trong đó, quy định “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo thông qua Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo”. Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia, trong đó, tài nguyên môi trường biển là đối tượng chung để đề ra các định hướng mang tính pháp lý nhằm triển khai xây dựng các đề tài, các chương trình khoa học và công nghệ bao gồm có nghiên cứu địa chất biển đáp ứng tiêu chí: “Nghiên cứu địa chất khoáng sản biển làm cơ sở lý luận để hoạch định chính sách, cơ chế quản lý tổng hợp, định hướng cho hoạt động điều tra cơ bản về địa chất khoáng sản biển, làm sáng tỏ các kết quả điều tra cơ bản địa chất, khoáng sản biển ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phải phục vụ nhiều ngành, lĩnh vực với sự tham gia của nhiều ngành, nhiều nhà khoa học”.

Luật này một lần nữa pháp lý hóa Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và Luật Biển Việt Nam 2012 với 3 Điều quy định việc Cấp phép nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam cho tổ chức, cá nhân nước ngoài. Quy định này đã tạo hành lang pháp lý đầy đủ để nước ngoài nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam; khuyến khích các nhà khoa học, các tổ chức của Việt Nam phối hợp với các nhà khoa học trên thế giới tiến hành nghiên cứu - công bố các nghiên cứu về địa chất biển nói riêng cũng như tài nguyên môi trường biển nói chung góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên biển.

Bên cạnh đó, một Nghị quyết vô cùng quan trọng đã nêu định hướng cho chuyên ngành định khoáng khoa học địa chất biển đó là Nghị quyết 36-NQ/TW định hướng chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030 .

Theo thứ tự ưu tiên tại Nghị quyết liên quan trực tiếp tới định hướng nghiên cứu địa chất, khoáng sản biển, Nghị quyết nêu rõ: Đối với phát triển du lịch và dịch vụ biển, cần tập trung nghiên cứu, đánh giá các giá trị bảo tồn, khu vực địa chất, địa mạo kỳ thú để phục vụ thám hiểm khoa học; đối với khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển, cần thăm dò các bể trầm tích mới, các dạng Hydrocarbon phi truyền thống; thăm dò dầu khí với điều tra tiềm năng các tài nguyên, khoáng sản biển khác, khoáng sản biển sâu, đặc biệt là các khoáng sản có trữ lượng lớn, có ý nghĩa chiến lược.

Các hoạt động nghiên cứu khoa học, trong đó có nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã được quy định trong pháp luật về khoa học và công nghệ pháp luật có liên quan. Phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, Luật quy định, hoạt động nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được thực hiện thông qua các nhiệm vụ khoa học và công nghệ về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo theo quy định của Luật này và pháp luật về khoa học và công nghệ; Luật chỉ tập trung quy định về Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm huy động nguồn lực quốc gia và sự tham gia của nhiều ngành khoa học và công nghệ để giải quyết các vấn đề liên ngành, lĩnh vực, liên vùng, quốc tế về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; làm cơ sở lý luận để hoạch định chính sách, cơ chế nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

Luật nêu rõ, Nhà nước ưu tiên đầu tư cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo thông qua chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

Trên cơ sở đề xuất của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cơ quan nhà nước khác ở trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp, xây dựng, đặt hàng thực hiện đề tài, dự án, nhiệm vụ thuộc chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Việc xác định và tổ chức thực hiện chương trình được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Căn cứ quy định của Luật, trong thời gian tới cần đẩy mạnh đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về biển, đại dương, tạo cơ sở khoa học để phát huy tiềm năng của đại dương, biển và hải đảo Việt Nam, nâng cao hiểu biết về tiềm năng, lợi thế và tác động bất lợi từ biển, làm chủ các hoạt động trên biển, xác lập luận cứ khoa học, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển bền vững kinh tế biển và đảm bảo quốc phòng an ninh quốc gia, xây dựng thể chế, chính sách quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường biển; nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp khoa học và công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại trong điều tra cơ bản, quản lý, giám sát, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; phòng tránh thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên biển, đảo; dự báo, quan trắc, phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường biển; phát triển các ngành kinh tế biển quan trọng; đề xuất được những giải pháp phù hợp nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, a-xít hóa đại dương, bảo tồn các vùng biển và nguồn tài nguyên biển, các hệ sinh thái ven biển, phát triển nghề cá bền vững, phòng chống thiên tai, xâm thực bờ biển; nghiên cứu, xây dựng mô hình cơ quan quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo cho tương xứng, phù hợp, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thực thi chức năng, nhiệm vụ bảo đảm vận hành thông suốt thể chế quản lý tổng hợp.../.

Phạm Cường

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi