Thứ Hai, 9/12/2019
Hotline: 08045542 - 08045075
Ứng phó và xử lý tốt sự cố tràn dầu, chất độc hại trên biển
Sự cố tràn dầu, hóa chất độc hại xảy ra gây ra tác động tiêu cực đến môi trường biển (Ảnh: petrotimes.vn) 

Từ đòi hỏi của thực tiễn

Việt Nam là quốc gia biển, với khoảng một triệu km2 mặt biển, nơi hiện hữu các tuyến đường vận tải dầu lớn thứ hai trên thế giới, chuyên chở dầu từ Trung Đông về các nước khu vực Đông Bắc Á. Dọc bờ biển từ Bắc vào Nam có nhiều cảng vận tải biển, cảng dầu.

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, từ năm 1989 đến nay cả nước có hơn 100 vụ tràn dầu do tai nạn hàng hải, đổ ra biển từ vài chục đến hàng trăm tấn dầu. Điển hình như sự cố tràn dầu tàu Formosa One xảy ra năm 2001 tại vịnh Gành Rái (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), do không tuân thủ đúng chỉ dẫn của Cảng vụ Vũng Tàu, tàu Formosa One đã đâm vào tàu Petrolimex- 01, làm tràn đổ 750 tấn dầu DO. Hay sự cố tràn dầu tàu Hồng Anh, xảy ra năm 2003, làm tràn khoảng 100 tấn dầu FO, ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực rừng phòng hộ Cần Giờ và các khu vực nuôi trồng thủy sản.

Trên dọc bở biển duyên hải, vùng biển Quảng Ngãi là nơi có hoạt động giao thông đường thủy nhộn nhịp và là nơi trung chuyển xăng dầu từ hoạt động dầu khí, nên khả năng gây ra sự cố tràn dầu trên biển thuộc địa bàn tỉnh rất lớn. Quảng Ngãi đã từng xảy ra nhiều vụ tràn dầu trên biển gây ô nhiễm môi trường. Thế nhưng, công tác ứng phó với sự cố này còn nhiều khó khăn và đang trở nên cấp bách, nhất là khi lưu lượng tàu thuyền ra vào các cảng biển Quảng Ngãi ngày một gia tăng.

Từ năm 2007 đến nay, vùng biển Quảng Ngãi đã có 6 sự cố tràn dầu lớn trên biển. Như sự cố tàu Hải Xuân chở xi măng đã đâm vào chiếc tàu Hà Lộc 08 chở dầu tại vùng biển Quảng Ngãi vào tháng  năm 200 đã làm tràn 170 tấn dầu FO tràn ra biển. Năm 2010, tàu hàng Hoàng Sơn South của Công ty TNHH Hoàng Sơn (Đà Nẵng) trong hải trình từ Thái Lan về Hải Phòng khi đi ngang qua vùng biển Lý Sơn đã bị mắc cạn và thủng két dầu FO khiến 180 tấn dầu FO tràn ra biển và loang trên diện rộng khoảng 7 hải lý. 

Năm 2012, tàu Racer Express có trọng tải 43.000 tấn khi đang neo đậu tại bến số 1, cảng Dung Quất và bơm dầu cặn từ các hầm chứa trong tàu, thì xảy ra sự cố ống bơm bị vỡ khiến 1.000 lít dầu tràn ra biển...Mới đây, tại khu vực cầu Trà Bồng (giáp ranh hai xã Bình Thạnh và Bình Đông, huyện Bình Sơn), tàu câu mực mang số hiệu QNg 90972 TS của ngư dân Nguyễn Đình Hiệp, ở xã Bình Chánh (Bình Sơn) bất ngờ bốc cháy, khiến lượng lớn dầu từ tàu tràn ra ngoài môi trường…

 Phao quây hiện đại thích ứng với dòng chảy mạnh.
(Ảnh: mt.gov.vn)

Chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật

Cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu vận tải hàng hóa trên biển tăng nhanh, tàu chở dầu và khai thác dầu khí làm gia tăng nguy cơ sự cố gây ô nhiễm môi trường biển. Để tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt, thực hiện tốt nhiệm vụ chủ động phòng ngừa ứng phó kịp thời, hiệu quả các tình huống sự cố, bảo vệ môi trường, ngày 14/1/2013 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 02/2013/QĐ-TTg, quy định chi tiết về trách nhiệm xây dựng, thẩm định và phê duyệt Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu các cấp tại Điều 7 và được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Quyết định số 63/2014/QĐ-TTg.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 33/2018/TT-BTNMT ngày 26/12/2018 quy định quy trình khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu trên biển, hướng dẫn các địa phương đánh giá mức độ tổn thương, ô nhiễm và yêu cầu bồi thường sau sự cố.

Theo đó, việc khắc phục sự cố tràn dầu trên biển phải đảm bảo các nguyên tắc:

Các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ và huy động các nguồn lực nhằm thực hiện việc khắc phục sự cố tràn dầu trên biển;

Việc khắc phục sự cố tràn dầu trên biển phải sử dụng thông tin, dữ liệu, kết quả ứng phó sự cố tràn dầu và điều tra, khảo sát bổ sung, cập nhật;

Lựa chọn các công nghệ tiên tiến, công nghệ thân thiện môi trường;

Chất lượng biển sau khi khắc phục sự cố tràn dầu trên biển được cải thiện và có khả năng phục hồi đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.

Thông tư nêu rõ, quy trình khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu trên biển bao gồm: 1- Điều chỉnh, đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do sự cố tràn dầu trên biển; 2- Lập kế hoạch khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu trên biển; 3- Thực hiện kế hoạch khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu trên biển và giám sát việc thực hiện kế hoạch; 4- Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch khắc phục sự cố tràn dầu trên biển.

Bảo vệ môi trường biển đang trở thành một nhiệm vụ bức thiết. Con người đã nhận thức được tầm quan trọng của các thảm họa môi trường. Có thể khẳng định, ở nước ta bảo đảm an ninh môi trường được coi là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Trong đó, công tác ứng phó và xử lý tốt cố tràn dầu, chất độc hại trên biển được Đảng, Quốc hội, Chính phủ đặt nhiệm vụ trọng tâm trong việc bảo vệ vùng biển nước ta.

Cụ thể, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 có những nội dung cụ thể như sau:

Điều 52. Nguyên tắc ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển

1. Ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

2. Chú trọng công tác phòng ngừa, chủ động xây dựng kế hoạch, đầu tư trang thiết bị, vật tư, nguồn nhân lực để sẵn sàng ứng phó khi xảy ra sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển.

3. Sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển phải được phân cấp để phân công trách nhiệm ứng phó.

4. Thông tin sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển phải được báo cáo, xử lý kịp thời.

5. Huy động nhanh nhất mọi nguồn lực cho hoạt động ứng phó; bảo đảm chỉ huy thống nhất, điều phối, phối hợp hiệu quả, hiệp đồng chặt chẽ các lực lượng, phương tiện, thiết bị tham gia hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển, ưu tiên các hoạt động để cứu người bị nạn.

6. Bảo đảm an toàn, phòng, chống cháy nổ trong ứng phó.

7. Cơ sở gây ra sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển phải chịu trách nhiệm khắc phục sự cố, khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường và bồi thường thiệt hại do sự cố tràn dầu, hóa chất độc gây ra theo quy định của pháp luật.

8. Việc phòng ngừa, khắc phục, xử lý sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và pháp luật có liên quan.

Điều 53. Phân cấp ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển

1. Việc ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển được thực hiện theo 3 cấp: ứng phó sự cố cấp cơ sở, ứng phó sự cố cấp khu vực và ứng phó sự cố cấp quốc gia.

2. Ứng phó sự cố cấp cơ sở:

a) Sự cố xảy ra ở cơ sở thì chủ cơ sở phải tổ chức, chỉ huy, huy động lực lượng, phương tiện, thiết bị để triển khai thực hiện ứng phó kịp thời, đồng thời thông báo ngay cho cơ quan chủ quản, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển nơi xảy ra sự cố; trường hợp sự cố vượt quá khả năng, nguồn lực của mình thì phải kịp thời báo cáo cơ quan chủ quản, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển nơi xảy ra sự cố để trợ giúp;

b) Trường hợp xảy ra sự cố gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc sự cố xảy ra trong khu vực ưu tiên bảo vệ, vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển cao hoặc rất cao, chủ cơ sở phải báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển nơi xảy ra sự cố và Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn để chỉ đạo, kịp thời ứng phó.

3. Ứng phó sự cố cấp khu vực:

Sự cố xảy ra vượt quá khả năng ứng phó của cơ sở, chưa xác định được cơ sở gây ra sự cố hoặc sự cố xảy ra chưa rõ nguyên nhân thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển nơi xảy ra sự cố có trách nhiệm trực tiếp chủ trì chỉ đạo ứng phó, đồng thời có quyền huy động khẩn cấp nguồn lực cần thiết của các cơ sở, bộ, ngành trên địa bàn để ứng phó.

4. Ứng phó sự cố cấp quốc gia:

a) Trường hợp sự cố vượt quá khả năng ứng phó của địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển nơi xảy ra sự cố phải kịp thời báo cáo để Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn trực tiếp chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức ứng phó;

b) Trường hợp sự cố vượt quá khả năng ứng phó của các lực lượng trong nước, Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc yêu cầu trợ giúp quốc tế;

c) Trường hợp sự cố gây ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp.

Điều 54. Xác định và thông báo khu vực hạn chế hoạt động

1. Trong trường hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cứu hộ, cứu nạn và ứng phó sự cố, cơ quan, người chủ trì ứng phó đề xuất việc thiết lập khu vực hạn chế hoạt động để ưu tiên cho hoạt động cứu hộ, cứu nạn, ứng phó sự cố.

2. Việc xác định và thông báo khu vực hạn chế hoạt động để ưu tiên cho hoạt động cứu hộ, cứu nạn, ứng phó sự cố tại địa phương do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển nơi xảy ra sự cố xem xét, quyết định theo đề xuất của cơ quan, người chủ trì ứng phó.

3. Chính phủ quy định chi tiết việc xác định và thông báo về khu vực hạn chế hoạt động để ưu tiên cho hoạt động cứu hộ, cứu nạn, ứng phó sự cố.

Điều 55. Tạm đình chỉ hoạt động đối với cơ sở gây sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển

Trong trường hợp cơ sở gây sự cố cản trở hoạt động khắc phục sự cố và điều tra, xác định nguyên nhân sự cố, bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quyết định tạm đình chỉ hoạt động đối với cơ sở gây sự cố./.

Phạm Cường (CTV)

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi