Thứ Sáu, 14/8/2020
Hotline: 08045542 - 08045075
Đại sứ Daniel Kritenbrink: Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đang ở thời kỳ tốt đẹp nhất
Đại sứ Daniel Kritenbrink trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Quân đội nhân dân (Ảnh: Văn Hiếu) 

Phóng viên (PV): Theo Đại sứ, những thành tựu nổi bật sau 25 năm hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao là gì?

Đại sứ Daniel Kritenbrink: Có thể nói, đây là một chặng đường tuyệt vời đối với cả hai quốc gia. Nhìn lại, chúng ta đã làm được rất nhiều việc trong 25 năm qua. Trong đó, điều quan trọng nhất là hai nước đã xây dựng được mối quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp. Cả hai đều coi phía kia là một đối tác quan trọng của nhau. Theo tôi, để đạt được những điều trên, trước tiên hai nước đã bắt đầu bằng cách hợp tác giải quyết các vấn đề quá khứ một cách có trách nhiệm, bao gồm hỗ trợ nhân đạo và giải quyết những di sản chiến tranh mà chủ yếu liên quan đến quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh tại Việt Nam (MIA).

Chúng ta đã bình thường hóa quan hệ thương mại một năm trước khi thực sự bình thường hóa quan hệ ngoại giao song phương vào năm 1995. 25 năm trước, chúng ta chưa thấy nhiều tiến triển trong thương mại song phương. Còn bây giờ, kim ngạch thương mại hai chiều năm 2019 đạt hơn 77 tỷ USD. Đó là điều ấn tượng nhất.

PV: Đại sứ có cho rằng chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7-2015 là một dấu ấn đặc biệt trong khoảng thời gian 25 năm kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ?

Đại sứ Daniel Kritenbrink: Đó là lần đầu tiên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thăm Hoa Kỳ. Tôi rất vinh dự khi có mặt tại Nhà Trắng vào thời điểm đó với vai trò là một trong những nhân viên ngoại giao hỗ trợ chuyến thăm. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Barack Obama đã có cuộc hội đàm thành công. Hai bên đã thông qua Tuyên bố về Tầm nhìn chung Hoa Kỳ-Việt Nam. Theo tôi, chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đạt được hai dấu ấn quan trọng. Thứ nhất, hai bên khẳng định tiếp tục tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ), luật pháp quốc tế và thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Thứ hai, nội dung của bản tuyên bố đã chứng minh được chiều rộng và chiều sâu của mối quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước.

Chuyến thăm có ý nghĩa đặc biệt, góp phần vun đắp, thúc đẩy mối quan hệ song phương. Nhìn rộng ra, những hoạt động như tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai nước đóng vai trò quan trọng cho tình hữu nghị và mối quan hệ đối tác song phương.

PV: Theo Đại sứ, có vấn đề nào cản trở mối quan hệ giữa hai nước hiện nay hay không?

Đại sứ Daniel Kritenbrink: Theo tôi, không có trở ngại lớn nào trong quan hệ hai nước. Tôi nghĩ rằng rào cản chính để bình thường hóa quan hệ trước năm 1995 chủ yếu liên quan đến các vấn đề sau chiến tranh, trong đó có vấn đề nhân đạo và di sản mà cuộc chiến để lại. Nhưng như tôi đã nói, Hoa Kỳ và Việt Nam đã hoàn thành một khối lượng công việc khổng lồ và điều đó tạo niềm tin giữa hai bên. Ngoài ra, chúng ta cũng cần nhìn vào mối quan hệ kinh tế, thương mại song phương. Hoa Kỳ và Việt Nam đang có nhiều lĩnh vực hợp tác hiệu quả về năng lượng, y tế, công nghệ thông tin, xây dựng thành phố thông minh, cơ sở hạ tầng giao thông, để nâng tầm kim ngạch thương mại hai chiều. Dù vậy, vẫn còn một số rào cản về chính sách tiếp cận thị trường Việt Nam cần phải được sớm điều chỉnh nhằm tăng cường mối quan hệ kinh tế, thương mại song phương.

PV: Đại sứ đánh giá như thế nào về sự hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19?

Đại sứ Daniel Kritenbrink: Hoa Kỳ đã hợp tác với Việt Nam ngay từ những ngày đầu dịch Covid-19 bùng phát và đến nay đã hỗ trợ khoảng 15 triệu USD để Việt Nam ứng phó với dịch Covid-19, bao gồm cả việc phòng, chống dịch bệnh và phục hồi kinh tế.

Có thể nói, hợp tác y tế là nền tảng cho sự hợp tác song phương của hai bên. Kể từ năm 1998, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) của Hoa Kỳ đã hợp tác với Bộ Y tế Việt Nam và các đối tác để thiết lập các hệ thống y tế bền vững, tăng cường năng lực y tế công cộng dài hạn cho Việt Nam. Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) cũng có hơn 20 năm hỗ trợ ngành y tế Việt Nam. Sự hợp tác này còn được mở rộng trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp trên toàn cầu với việc CDC Hoa Kỳ hỗ trợ Việt Nam chuẩn bị và ứng phó với đại dịch.

Tôi muốn nhấn mạnh hai điểm về hợp tác song phương trong phòng, chống dịch Covid-19. Trước hết, Việt Nam chính là “quán quân” của thế giới trong công tác đẩy lùi dịch bệnh và Hoa Kỳ tự hào vì có một đối tác y tế như vậy. Kế đến, chúng tôi rất biết ơn Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã tặng hàng triệu khẩu trang và các vật tư y tế khác cho phía Hoa Kỳ, góp phần vào công tác phòng, chống dịch bệnh của chúng tôi. Như vậy, phối hợp trong phòng, chống dịch Covid-19 có thể được coi là một ví dụ hoàn hảo cho mối quan hệ hữu nghị và đối tác toàn diện mà hai nước đã nỗ lực thúc đẩy trong 25 năm qua.

PV: Về hợp tác quốc phòng trong tổng thể mối quan hệ giữa hai nước, thưa Đại sứ?

Đại sứ Daniel Kritenbrink: Hợp tác quốc phòng cũng là một ví dụ điển hình trong quan hệ giữa hai nước. Mối quan hệ giữa hai quân đội đang phát triển mạnh mẽ. Những cuộc đối thoại cấp cao giữa hai bên đang ở mức độ cao. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đã 3 lần đến Việt Nam từ khi tôi đảm nhiệm vị trí Đại sứ ở đây. Ngược lại, trong thời gian đó, năm 2017, đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam do Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu, đã thăm chính thức Hoa Kỳ. Đại tướng Ngô Xuân Lịch và những người đồng cấp Hoa Kỳ đã gặp nhau nhiều lần, kể cả ở các quốc gia khác và tại các diễn đàn đa phương. Các cuộc đối thoại của hai bên ở cấp Thứ trưởng và thấp hơn cũng rất tích cực và hiệu quả.

Hai bên thường xuyên trao đổi quan điểm về các vấn đề an ninh khu vực và ngày càng thúc đẩy đào tạo và trao đổi giáo dục. Hoa Kỳ rất coi trọng các chương trình đào tạo dành cho Việt Nam và QĐND Việt Nam. Chúng ta đã hợp tác trong các lĩnh vực đào tạo, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, gìn giữ hòa bình LHQ. Tôi nghĩ rằng các chương trình này đặc biệt quan trọng.

Kể từ năm 2012, Hoa Kỳ đã hỗ trợ rất tích cực nhằm tăng cường năng lực của QĐND Việt Nam, nhất là năng lực hàng hải. Sự hỗ trợ này dựa trên niềm tin của chúng tôi rằng Hoa Kỳ sẽ mạnh hơn, an toàn hơn, thịnh vượng hơn khi các đối tác của mình cũng mạnh mẽ và thành công, không chỉ Việt Nam, mà đối với nhiều đối tác của chúng tôi trong khu vực cũng vậy. Phía Hoa Kỳ hy vọng sẽ gia hạn bản ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương trong năm nay. Chúng tôi cũng muốn xem làm thế nào để hai nước có thể mở rộng hợp tác quốc phòng.

PV: Hơn 25 năm trước, MIA đóng vai trò quan trọng để thúc đẩy bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Vậy Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ Việt Nam như thế nào trong việc tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh, thưa Đại sứ?

Đại sứ Daniel Kritenbrink: Hai bên bắt đầu quan hệ hợp tác thông qua việc hồi hương hài cốt quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh tại Việt Nam. Từ năm 1985, Việt Nam đã hỗ trợ phía Hoa Kỳ tìm kiếm, cất bốc được 727 hài cốt. Tôi rất vui mừng thông báo, Hoa Kỳ đang mở rộng đáng kể sự hỗ trợ và hợp tác với Việt Nam trong tìm kiếm, quy tập hài cốt bộ đội Việt Nam mất tích, hy sinh trong chiến tranh tại Việt Nam. USAID và Cơ quan Việt Nam tìm kiếm người mất tích (VNOSMP) cũng vừa ký bản ghi nhớ ý định (ngày 8-7-2020) về hợp tác nâng cao năng lực, hỗ trợ kỹ thuật định danh hài cốt quân nhân Việt Nam mất tích trong chiến tranh. Chúng tôi thấy lĩnh vực hợp tác này là điều đúng đắn để làm. Tôi xin nhắc lại, đó là điều vô cùng đúng đắn để làm. Nó cũng rất thiết thực vì chúng ta giúp đỡ lẫn nhau. Không gì có thể ngăn chúng ta không tiếp tục hợp tác trong tương lai.

PV: Trân trọng cảm ơn Đại sứ!

Nguồn: qdnd.vn

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

ript>