Thứ Sáu, 25/5/2018
Hotline: 08045542 - 08045075
“Dạ cổ hoài lang”- tinh hoa cổ nhạc
 Bản gốc chép tay Dạ cổ hoài lang  (Ảnh: T.A)

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu tức Sáu Lầu sinh ngày 22/12/1892 tại ấp Cái Cui, làng Chí Mỹ, sau sát nhập với làng Thuận Lễ trở thành xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Năm 1901, ông Cao theo gia đình đến lập nghiệp tại Bạc Liêu rồi ở luôn tại đây cho đến cuối đời (ông qua đời ngày 13/8/1976).

Thuở nhỏ, ông học chữ nho rồi học chữ quốc ngữ đến “lớp nhì năm thứ hai” (tức lớp 4 ngày nay); sau đó ông quy y tại chùa Vĩnh Phước - Bạc Liêu. Sau khi rời cửa Phật, ông học nhạc lễ và là một trong những môn đệ giỏi về nhạc lễ của nhạc sư Lê Tài Khị (Nhạc Khị). Ông sử dụng rành rẽ đàn tranh, cò, kìm và trống lễ. Nhắc đến ông, người ta nhớ ngay đến bản Dạ cổ hoài lang, được xem là tiền thân của vọng cổ ngày nay.

“Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng”

Đến giờ xung quanh Dạ cổ hoài lang có khá nhiều dị bản, ý kiến tranh luận khác nhau. Ngay cả ông Cao Kiến Thiết và Cao Văn Bỉnh, là hai người con của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu cũng chưa xác định thời điểm ra đời lẫn số phận bài hát. Nhưng có một điều chắc chắn về lý do cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác bài hát đã nhiều lần ông thổ lộ với bạn tri âm: “Tôi soạn bài này bởi tôi rất thương vợ, bà Trần Thị Tấn. Năm viết bản Dạ cổ hoài lang, tôi đã ăn ở với vợ tôi được 3 năm mà không có con. “Tam niên vô tử bất thành thê”. Vợ chồng ăn ở với nhau trong 3 năm, vợ không sinh con, chồng được quyền bỏ để cưới người khác hầu có con nối dõi tông đường. Thời phong kiến có những quan niệm chưa đúng. Người ta luôn cho rằng vợ chồng không sinh con là do lỗi của người đàn bà”.

(Ảnh tư liệu)
Từ là từ phu tướng
Bảo kiếm sắc phán lên đàng
Vào ra luống trông tin nhạn
Năm canh mơ màng ...    (Dạ cổ hoài lang)    

Gia đình buộc ông phải thôi vợ, nhưng ông không đành. Nhạc sĩ âm thầm chống lại nghiêm lệnh của gia đình, không đem vợ trả về cho cha mẹ mà đem gởi đến một gia đình có tấm lòng nhân hậu, với hy vọng vợ chồng sẽ có con và chiến thắng cái quan niệm khắc nghiệt, lạc hậu, chịu ảnh hưởng nặng đạo lý thời phong kiến.Trong thời gian dài, phu thê phải cam chịu cảnh “Đêm đông gối chiếc cô phòng”, tâm tư nặng trĩu u buồn nên nhạc sĩ Sáu Lầu đêm đêm mượn tiếng đàn nắn nót đôi câu bớt cơn phiền muộn. Ông thấu hiểu người vợ hiền cũng đau xót như ông. Bản Dạ cổ hoài lang ra đời trong bối cảnh như thế.

Nhạc sĩ Hai Ngưu, bạn ông kể: “Trong một đêm ông Sáu Lầu trực gác tại Nhà đèn Bạc Liêu vào năm 1920, do đau khổ trong hoàn cảnh nợ duyên ngang trái, ông xúc cảm viết thành bản nhạc lòng Dạ cổ hoài lang (Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng). Sau khi bản Dạ cổ hoài lang ra đời...ít lâu sau (nhờ vợ ông có thai) hai vợ chồng ông được tái hợp, để rồi sau đó hai ông bà đã có với nhau 6 người con”.

Dạ cổ hoài lang khởi điểm từ nhịp 2. Nhưng khi hòa nhập vào sân khấu cải lương, bản Dạ cổ hoài lang được chuyển dần thành nhiều nhịp: Năm 1924, tăng lên nhịp bốn. Từ khoảng 1934 đến 1944, tăng lên nhịp tám. Từ khoảng 1944 đến 1954, Vọng cổ tăng lên nhịp 16. Từ 1955 đến 1964, tăng lên nhịp 32 rồi nhịp 64 từ năm 1965 đến nay.

 Theo nhà giáo Trịnh Thiên Tư và ông Chín Tâm (nguyên giảng viên Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn), bài này lúc đầu có 22 câu và ông đặt tên là Hoài lang. Danh ca Bảy Kiên nhận thấy có vài câu trùng ý, đề nghị rút lại còn 20 câu. Đồng thời ông Kiên còn thêm vào hai chữ "dạ cổ", thành ra "Dạ cổ hoài lang". Về lời ca, nhạc sĩ Sáu Lầu phóng tác theo bài thơ "Chinh phụ thán" của nhạc sư Nguyệt Chiếu – trụ trì chùa Phật Hòa Bình ở Bạc Liêu. Bài thơ mang âm hưởng tích "Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn" đời nhà Tần.

 Khu lưu niệm Đờn ca tài tử và nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Ảnh:T.A)

Niềm tự hào của người Nam Bộ

Ngay khi ra đời, bản Dạ cổ hoài lang đã sớm chinh phục người nghe bởi nhiều nguyên do. Nó là sự kết tinh về tri thức cổ nhạc và tâm hồn mẫn cảm, tài hoa của nhạc sỹ Cao Văn Lầu. Bản nhạc làm xúc động người nghe bởi nó được “chắt ra” từ chính cuộc tình duyên éo le mà có hậu của nhạc sỹ.

Bản Dạ cổ hoài lang ra đời cũng với nhiều bản vọng cổ khác đã nói hộ nhạc sỹ những nỗi niềm tâm sự buồn thương, cay đắng, chuyện đạo nghĩa, lòng nhân... Mỗi bản vọng cổ được ca lên là người nghe tìm thấy một phần số phận mình trong đó, họ cảm thấy được gửi gắm tâm sự, được chia sẻ, được an ủi. Điều đó lý giải vì sao Dạ cổ hoài lang ngay từ khi ra đời đã đi vào đời sống người dân một cách tự nhiên và có sức cuốn hút mạnh mẽ đến vậy.

Bản nhạc đã nhanh chóng lan truyền và làm nên danh tiếng của nhạc sỹ Cao Văn Lầu. Nhiều gánh hát Nam Bộ và giới cải lương đã tôn xưng Dạ cổ hoài lang là bài ca chính thống,“bài ca vua” trên sân khấu cải lương Nam Bộ. Nhiều soạn giả, nhạc sỹ lấy cảm hứng từ bản nhạc này để sáng tác như: Viễn Châu (Tân cổ giao duyên), Vũ Đức Sao Biển (Đêm Gành Hào nghe điệu hoài lang)... Nó thực sự trở thành một thứ di sản mang tính cộng đồng.

Dạ cổ hoài lang có vị trí, ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống âm nhạc dân tộc, khiến nó trở thành một thứ di sản mang tính biểu tượng, niềm tự hào của người dân Nam Bộ. Đó cũng là lý do khiến cho những đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc thường chọn nghe mỗi khi nhớ gia đình, nhớ quê hương.

An Thanh-(TTĐN)

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi