Thứ Bảy, 22/9/2018
Hotline: 08045542 - 08045075
Thạch Quỳ, thơ và đời
Thạch Quỳ và "Giấy loại" (Ảnh: T.A)
      Thạch Quỳ quê ở Đô Lương, Nghệ An, bố ông là người thông thạo Hán học, mẹ ông là người làm ruộng nhưng thuộc rất nhiều ca dao, tục ngữ, hò vè. Bà còn thuộc lòng truyện Kiều...mặc dù không biết chữ! 
       Ông tên thật là Vương Đình Huấn, sinh năm 1941. Nhìn nét mặt góc cạnh và khô như đá, nhưng thật ra Thạch Quỳ là người rất nội tâm và hóm hỉnh.
      Năm 1960, Thạch Quỳ theo học ngành Sư phạm Toán tại trường Đại học Vinh, cùng năm này, ông có bài thơ đầu tiên được đăng trên Văn nghệ quân đội có cái tên rất chi là Ví dặm: "Mà thương cũng nhiều”.
      Sau khi tốt nghiệp đại học, có một thời gian ông làm giáo viên Toán cấp 3 tại Nghệ An, sau đó duyên nợ với "nàng thơ" ông chuyển về công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật Nghệ Tĩnh.
       Mãi rất lâu sau ngày mượn thơ ông để "cưa cẩm" cô bạn gái lớp 5, tôi mới biết Thạch Quỳ nằm trong top-ten thơ, cùng với những Anh Ngọc, Vương Trọng, Võ Văn Trực, Hoàng Trung Thông, Hoàng Trần Cương… lừng danh xứ Nghệ một thời.
       Thơ ông từng con chữ được chắt lọc từ một vùng văn hóa trầm tích trong dân ca xứ Nghệ. Nó có thêm cái tư chất thông minh sắc sảo của ông thầy dạy toán. Theo năm tháng của thời gian thơ Thạch Quỳ thấm đẫm sự xót xa đến tột cùng đời sống nghèo khó, gian nan vất vả của người dân xứ sở gió Lào, cát trắng. Tuy nhiên, thỉnh thoảng người ta vẫn thấy Thạch Quỳ chắt lọc được sự dịu ngọt mát lành của nguồn nước sông Lam, những hình ảnh đẹp mộng mơ lãng mạn của quê hương xứ Nghệ:
Có mùi mật trong hoa
Điều đó chú ong vàng cũng biết
Có hương thơm ẩn giữa sắc màu
Cái chuyện này, bướm tím biết từ lâu!
Nhưng bạn ạ! Hương trầm trong gỗ mục
Thì ong vàng, bướm tím có hay đâu...

                                                       (Luận về hoa)
                                                                  
 Thạch Quỳ, thơ và đời (Ảnh:T.A)

       Giải thích về bút danh Thạch Quỳ, ông kể rằng mình chọn bút danh như thế vì muốn làm một "tảng đá núi Quỳ", bám chặt với quê hương - làng Đông Bích, một làng quê yêu văn học và có nhiều người làm thơ.  Sống ở Vinh, chẳng cách quê bao xa mà có khi cả năm người làng chẳng thấy mặt anh đâu. Rồi một lần anh trở về, đang đi trên đường làng thì có một người nông dân đang mặc tơi, bừa ruộng hỏi vọng lên:
Thạch Quỳ ơi, Thạch Quỳ ơi
Tưởng là đá núi không rời quê hương
Mần răng suốt mấy năm trường
Biệt tăm, mi tới những phương trời nào?

        Nghe xong, "anh Huấn" biết ngay người quê trách mình.
      Ở cái làng Đông Bích lắm thợ cày, nhiều nhà thơ đến mức bà con tự trào: "Nhà thơ ở cạnh nhà thờ/ Nhà thơ tắt thở nhà thờ rung chuông". Ngày ngày, bà con vừa đánh dậm, vừa "lẩy Kiều". Lẩy Kiểu là lựa chọn những câu thích hợp trong số 3.254 câu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du rồi nối lại, cải biên, thêm câu, thêm chữ  sao cho có vần và có nghĩa theo dụng ý của riêng mình. Đại thể như, để tuyên truyền cho việc vận động nông dân vào HTX nông nghiệp, người ta dùng than viết lên tường sân kho hợp tác xã:
"Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Không vô Hợp tác là duyên bọt bèo!"

       Thì ra, "Ông lão dưới ruộng đi bừa/Là con ông lão ngày xưa đi cày", sau vài phút bối rối, Thạch Quỳ rút đôi "tông Lào" vẹt gót, ngồi bệt xuống bờ ruộng, "lẩy" họa lại "nhà thơ cày ruộng" đang nhăn nhở cười:
Xin tha cho cái thằng tôi
Muốn làm đá núi không rời quê hương
Mà nay kinh tế thị trường
Phải đi để viết kiếm lương nuôi mình...

      Tất nhiên là ông “được tha”, lời thơ họa chân thành thế, thật thế ai nỡ phạt ông!
      Tuy nhiên, sau cái đận đấy, ông năng về làng quê Đông Bích hơn hẳn, bởi đó chính là cội nguồn, gốc rễ của nhà thơ họ Vương. Họ Vương, cùng họ Nguyễn Cảnh ở đất Đô Lương là những dòng họ lớn có nhiều khoa bảng đỗ đạt. Họ Vương có nhiều nhà thơ như Vương Trọng, Thạch Quỳ (Vương Huấn), Vương Cường, Vương Duyệt, Vương Đình Trâm…
                                                                   
 Nhớ ngọn núi Quỳ (Ảnh: T.A)
       Giỏi toán, hay thơ, ưa triết lý- Thạch Quỳ còn là "thánh trạng". Có lần, nhà thơ Thạch Quỳ vừa nhấp chén rượu Nghi Phú trứ danh, nhắm với vài hạt lạc rang húng lìu, vừa thủng thẳng hỏi đám tôi:
      -Tau đố bây nhà thơ Tố Hữu hồi trước khi đi làm cách mạng, ông nớ mần nghề chi?
      Biết là “đố mẹo” nhưng mọi người vẫn hồ hởi kể ra hàng loạt các chức vụ Đảng và Nhà nước của bác Tố Hữu.
       -Nỏ phải. Trật! Trật lấc!
       Nhấp tiếp ly rượu, nhà thơ Thạch Quỳ mới thủng thỉnh nói:
       -Nhà thơ Tố Hữu làm lái xe cho Bác Hồ!
        Nghe xong, mọi người ngớ ra:
       - Ông nói phét, mần chi có chuyện nớ!
        Đợi mọi người tranh cãi nhau ỏm tỏi xong, bác Huấn khi đó mới cười tưng tửng: “Rứa là các ông "dốt", không chịu đọc thơ Tố Hữu rồi. Này nha, ông Tố Hữu viết: “Bác bảo đi là đi/ Bác bảo thắng là thắng”.
     “Thắng” tiếng miền Nam là "phanh". Bác bảo phanh là phanh. Không lái xe cho Bác thì mần chi nữa!”
       Lúc đó, mọi người mới ồ lên vì sự hóm hỉnh của ông đồ Nghệ lắm chuyện.
                                                                         An Thanh-(TTĐN)
 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi